Ngày 31/3/2026 Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 104/2026/NĐ-CP quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành với nhiều điểm mới quan trọng và thay thế Nghị định số 98/2025/NĐ-CP ngày 06/5/2025 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước để mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; chi thuê hàng hóa, dịch vụ; sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng và các nhiệm vụ cần thiết khác.
Trước hết cần nắm được 2 vấn đề liên quan trực tiếp đến Nghị định này gồm khái niệm “Chi thường xuyên” và “Các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 của Luật Ngân sách nhà nước” gồm những gì ?
(1) Khái niệm chi thường xuyên: Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 định nghĩa về Chi thường xuyên như sau: “Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật”.
(2) Các nhiệm vụ quy định cụ thể tại Điều 40 của Luật Ngân sách nhà nước bao gồm:
“Điều 40. Các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước được bố trí từ hai nguồn chi đầu tư công và chi thường xuyên
1. Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, trưng dụng đất; chuẩn bị giải phóng mặt bằng, giải phóng mặt bằng.
2. Chi phí chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài.
3. Lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án.
4. Mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; thuê hàng hóa, dịch vụ; sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng.
5. Hoạt động quy hoạch.
6. Các nhiệm vụ cần thiết khác.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”
Sáu điểm nhấn sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 104/2026/NĐ-CP so với quy định cũ tại Nghị định 98/2025/NĐ-CP gồm:
(1) Bổ sung thêm 4 nhóm nhiệm vụ mới theo quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước (ngoài nhiệm vụ chính như quy định cũ tại Nghị định 98/2025/NĐ-CP là: Mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; thuê hàng hóa, dịch vụ; sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng) gồm:
– Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, trưng dụng đất; chuẩn bị giải phóng mặt bằng, giải phóng mặt bằng (sau đây gọi là nhiệm vụ giải phóng mặt bằng).
– Chi phí chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài.
– Lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án.
– Hoạt động quy hoạch.
(2) Điều chỉnh đối tượng phạm vi áp dụng đối với nhiệm vụ chi thường xuyên quy định tại khoản 1 Điều 1 trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại: “Được áp dụng trình tự, thủ tục lập dự toán, phân bổ, giao dự toán và quyết toán kinh phí chi thường xuyên theo quy định tại Nghị định này và quy định riêng của Chính phủ để tổ chức thực hiện bảo đảm phù hợp với đặc thù về quốc phòng, an ninh, đối ngoại” thay vì quy định đối tượng này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 98/2025/NĐ-CP.
(3) Mở rộng thêm phạm vi áp dụng đối với lĩnh vực “đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số” so với quy định cũ chỉ đề cập đến “lĩnh vực công nghệ thông tin, khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường”, cụ thể như quy định tại Khoản 4 Điều 1 Nghị định 104/2026/MĐ-CP mới ban hành như sau: “Đối với nhiệm vụ sử dụng chi thường xuyên quy định tại khoản 1 Điều này trong lĩnh vực công nghệ thông tin, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực khác (nếu có, ngoài quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định này): Cơ quan, đơn vị áp dụng quy định tại Nghị định này về trình tự, thủ tục lập dự toán, phân bổ, giao dự toán và quyết toán chi thường xuyên và thực hiện theo quy định của pháp luật về công nghệ thông tin, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường và pháp luật khác có liên quan để tổ chức thực hiện bảo đảm đúng quy định. Trường hợp pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ có quy định cơ chế, chính sách ưu tiên, ưu đãi hoặc thuận lợi hơn thì áp dụng thực hiện theo cơ chế, chính sách đó.”
(4) Điều chỉnh thủ tục thực hiện trước khi giao dự toán/phân bổ dự toán từ Quyết định phê duyệt “nhiệm vụ và dự toán kinh phí” sang thành Quyết định phê duyệt “chủ trương và dự kiến kinh phí“.
(5) Thay đổi thẩm quyền quyết định ở một số nội dung của địa phương từ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tại quy định cũ (Khoản 3 Điều 5; Khoản 2 Điều 8, Nghị định 98/2025/NĐ-CP) sang Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ở quy định mới (Khoản 3 Điều 17; Khoản 2 Điều 20, Nghị định 104/2026/NĐ-CP) như: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc quy định thẩm quyền quyết định phê duyệt chủ trương và dự kiến kinh phí thực hiện”.
(6) Điều chỉnh theo hướng đơn giản hóa giảm thủ tục hành chính (từ yêu cầu phải có 02 loại quyết định phê duyệt thành 01 loại quyết định) và đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền phê duyệt chủ trương (từ Thủ tướng phê duyệt thành Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan) đối với nhiệm vụ mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị có tổng dự kiến kinh phí thực hiện từ 240 tỷ đồng/nhiệm vụ trở lên, cụ thể từ “Bộ Tài chính chủ trì, tổng hợp đề xuất của các bộ, cơ quan trung ương để báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phê duyệt về chủ trương thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở quyết định phê duyệt chủ trương thực hiện nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương quyết định phê duyệt nhiệm vụ và dự toán kinh phí thực hiện hàng năm” theo quy định tại Nghị định 98/2025/NĐ-CP thành “Trên cơ sở ý kiến của các bộ, cơ quan có liên quan, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương quyết định phê duyệt chủ trương và dự kiến kinh phí thực hiện nhiệm vụ” quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 17 Nghị định 104/2026/NĐ-CP.
…
Ngoài ra, cần lưu ý quy định về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện quy định tại Khoản 2,3,4, Điều 29 Nghị định 104/2026/NĐ-CP để đảm bảo việc thực thi đúng quy định:
“2. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách chịu trách nhiệm toàn diện về hồ sơ, trình tự, thủ tục và thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ, về lập dự toán, phân bổ, giao dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Nghị định này bảo đảm đúng quy định của pháp luật; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, các tập thể, cá nhân thuộc các bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp và các đơn vị quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước trong trường hợp cơ quan thanh tra, kiểm toán phát hiện có vi phạm trong quá trình thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
3. Đối với các nhiệm vụ mua sắm tài sản, trang thiết bị; nhiệm vụ sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng; nhiệm vụ thuê hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về xây dựng hoặc các nhiệm vụ trong lĩnh vực công nghệ thông tin, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường và lĩnh vực khác quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị định này đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt sử dụng chi thường xuyên trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành và đang thực hiện dở dang: Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách tiếp tục thực hiện theo phê duyệt của cấp có thẩm quyền, chịu trách nhiệm rà soát, xác định và ban hành Quyết định phê duyệt dự toán kinh phí còn thiếu của nhiệm vụ gửi cơ quan tài chính cùng cấp để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, tiếp tục bố trí kinh phí thực hiện theo quy định. Các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách chịu trách nhiệm toàn diện về việc quản lý sử dụng nguồn kinh phí được giao bảo đảm đúng quy định, tiết kiệm, hiệu quả.
4. Đối với các nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bố trí vốn trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo các quy định của pháp luật liên quan đến quản lý sử dụng nguồn kinh phí ở thời điểm phê duyệt dự toán cho đến khi quyết toán nhiệm vụ”.
Chi tiết nội dung Nghị định 104/2026/NĐ-CP xem và tải file đính kèm phía dưới (bên cạnh đó có thể xem và tải thêm Luật NSNN số 89/2025/QH15 kèm theo).
Dauthaumuasam.vn
