Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định hình thức kỷ luật, bồi thường thiệt hại đối với hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí và Nghị định 55/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 63/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý tài sản công

Năm 2026, Chính phủ ký ban hành các Nghị định quan trọng liên quan đến xử lý vi phạm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công bao gồm: Nghị định số 55/2026/NĐ-CP ngày 09/2/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, dự trữ quốc gia, kho bạc nhà nước đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16/11/2021 của Chính phủ; Nghị định số 267/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026 quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật và bồi thường thiệt hại đối với hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí. Một số điểm nhấn nổi bật như:



1. Đối với Nghị định số 55/2026/NĐ-CP ngày 09/2/2026:

Sửa đổi, bổ sung hành vi vi phạm quy định về mua sắm tài sản công: 

Nghị định số 55/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung hành vi vi phạm quy định về mua sắm tài sản công tại Điều 6 để bao quát hơn các trường hợp phát sinh trong thực tiễn. Cụ thể: Phạt tiền đối với tổ chức có hành vi mua sắm tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức do cơ quan, người có thẩm quyền quy định theo các mức phạt sau:

Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp mua sắm tài sản có giá trị vượt dưới 50.000.000 đồng.

Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp mua sắm tài sản có giá trị vượt từ 50.000.000 đồng đến dưới 75.000.000 đồng.

Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp mua sắm tài sản có giá trị vượt từ 75.000.000 đồng trở lên.

Phạt tới 20 triệu đồng đối với hành vi vi phạm quy định về giao, sử dụng tài sản công, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản công:

Nghị định số 55/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 8 về xử phạt hành vi vi phạm quy định về giao, sử dụng tài sản công, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản công như sau:

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với tổ chức có một trong các hành vi sau: Không bàn giao tài sản được cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận theo đúng thời hạn quy định; không tiếp nhận tài sản được cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao từ cơ quan, tổ chức, đơn vị bàn giao theo đúng thời hạn quy định.

Phạt tiền đối với tổ chức bàn giao tài sản công khi chưa có Quyết định giao tài sản của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc bàn giao tài sản công không đúng đối tượng, chủng loại, số lượng theo Quyết định giao tài sản của cơ quan, người có thẩm quyền (tính trên từng tài sản) theo các mức phạt sau: Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp giao tài sản công có giá trị dưới 50.000.000 đồng; từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp giao tài sản công có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 75.000.000 đồng; từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp giao tài sản công có giá trị từ 75.000.000 đồng trở lên.

Phạt tiền đối với tổ chức kê khai không đúng nhu cầu, thực trạng của tài sản khi lập hồ sơ đề nghị giao tài sản dẫn đến cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao tài sản công vượt tiêu chuẩn, định mức (vượt diện tích, vượt số lượng, vượt mức giá xác định trên từng tài sản giao) theo các mức phạt sau: Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp giao tài sản công có giá trị vượt dưới 50.000.000 đồng; từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp giao tài sản công có giá trị vượt từ 50.000.000 đồng đến dưới 75.000.000 đồng; từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp giao tài sản công có giá trị vượt từ 75.000.000 đồng trở lên.

Sử dụng tài sản công không đúng mục đích bị phạt tới 20 triệu đồng:

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức có hành vi sử dụng tài sản công không đúng mục đích (sử dụng tài sản công không đúng với mục đích, công năng sử dụng của tài sản được đầu tư, trang bị, mua sắm (trừ trường hợp tài sản đã có quyết định chuyển đổi công năng sử dụng theo quy định); sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp làm nhà ở hoặc sử dụng vào mục đích cá nhân; sử dụng xe ô tô đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc đối với chức danh không có tiêu chuẩn đưa đón; sử dụng xe ô tô phục vụ công tác cho các chức danh không có tiêu chuẩn; sử dụng xe ô tô, máy móc, thiết bị, tài sản khác vào mục đích cá nhân).

Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản công nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vi phạm quy định về tặng cho tài sản công bị phạt tới 50 triệu đồng:

Đồng thời, Nghị định số 55/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 10 quy định về xử phạt hành vi vi phạm quy định về tặng cho tài sản công.

Theo đó, Nghị định quy định phạt tiền đối với tổ chức, cá nhân có hành vi tặng cho tài sản công không đúng quy định (sử dụng tài sản công để làm quà tặng vi phạm quy định tặng quà do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành) nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo các mức phạt sau: Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp tặng cho tài sản công có giá trị dưới 50.000.000 đồng; từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp tặng cho tài sản công từ 50.000.000 đồng đến dưới 75.000.000 đồng; từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp tặng cho tài sản công có giá trị từ 75.000.000 đồng trở lên.

Xử phạt vi phạm quy định về khai thác tài sản công tại cơ quan:

Bên cạnh đó, Nghị định cũng bổ sung quy định về xử phạt hành vi vi phạm quy định về khai thác tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Theo đó, tổ chức có hành vi khai thác tài sản công khi chưa được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành Quyết định khai thác tài sản công theo quy định bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.



Điều chỉnh thẩm quyền xử phạt:

Để phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 và Luật Thanh tra 2025, Nghị định số 55/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Điều 30 theo hướng điều chỉnh thẩm quyền xử phạt của các chức danh.

Theo đó, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh trong lĩnh vực quản lý tài sản công được quy định như sau:

Cục trưởng Cục Quản lý công sản; Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ; Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thành lập có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Giám đốc Sở; Trưởng đoàn kiểm tra do Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ thành lập có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Chi tiết xem và tải file Nghị định 55/2026/NĐ-CP, Nghị định 102/2021/NĐ-CP và Nghị định 63/2019/NĐ-CP kèm theo phía dưới.

2. Đối với Nghị định số 267/2026/NĐ-CP ngày 01/7/2026: Một số điểm chính như:

Đối tượng bị xử lý kỷ luật, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Điều 3):

1. Đối tượng bị xử lý kỷ luật bao gồm:
a) Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách;
b) Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí, hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí;
2. Đối tượng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người thực hiện hành vi gây lãng phí gây thiệt hại.

Áp dụng hình thức kỷ luật đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách (Điều 6): 

Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách trực tiếp bị xem xét áp dụng hình thức kỷ luật như sau:
1. Hình thức kỷ luật khiển trách được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.
2. Hình thức kỷ luật cảnh cáo được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm.
3. Hình thức kỷ luật cách chức được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tù từ trên 07 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình.

Áp dụng hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí (Điều 7):

1. Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có hành vi vi phạm lần đầu, gây thiệt hại từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng;
b) Có hành vi vi phạm lần đầu, gây thiệt hại từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng và thuộc một trong các trường hợp được giảm nhẹ mức kỷ luật quy định tại Điều 4 Nghị định này;
c) Thực hiện hành vi không ban hành hoặc chậm ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí, gây lãng phí.
2. Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách mà tái phạm, trừ trường hợp bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự;
b) Có hành vi vi phạm lần đầu, gây thiệt hại từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng.
3. Hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo theo quy định tại khoản 2 Điều này mà tái phạm, trừ trường hợp bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự;
b) Có hành vi gây lãng phí lần đầu gây thiệt hại trên 75 triệu đồng nhưng chưa đến mức buộc thôi việc, bãi nhiệm, người vi phạm có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc một trong các trường hợp được giảm nhẹ mức kỷ luật quy định tại Điều 4 Nghị định này.
4. Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức, viên chức, có hành vi gây lãng phí thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức đối với công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc cảnh cáo đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý mà tái phạm, trừ trường hợp bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự;
b) Có hành vi gây lãng phí lần đầu gây thiệt hại trên 75 triệu đồng nhưng người vi phạm không có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc một trong các trường hợp tăng nặng mức kỷ luật theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.



Áp dụng hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí (Điều 8):

1. Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm lần đầu thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tiết kiệm, chống lãng phí của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;
b) Cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong xác minh, xử lý, giải quyết, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo về tiết kiệm, chống lãng phí.
2. Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách theo quy định tại khoản 1 Điều này mà tái phạm;
b) Vi phạm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí và người thân của người đấu tranh chống lãng phí theo quy định của pháp luật

Nguyên tắc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại (Điều 9):

1. Thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Nghị định này là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền theo một trong các cách xác định giá trị thiệt hại quy định tại Nghị định này hoặc quy định pháp luật có liên quan, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí. Thiệt hại phải được xác định trên cơ sở chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán, các bằng chứng hợp pháp, hợp lệ và thể hiện tại kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định.
2. Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế gây ra, mức độ khắc phục hậu quả và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người có nghĩa vụ bồi thường để quyết định mức và phương thức bồi thường thiệt hại; bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.
3. Trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với mức độ lỗi, trách nhiệm và vi phạm của từng người có hành vi vi phạm, bảo đảm khách quan, công bằng, công khai và phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm. Trường hợp không có căn cứ xác định được mức độ trách nhiệm và vi phạm của từng người thì trách nhiệm bồi thường được chia đều cho từng người.
4. Việc xác định giá trị thiệt hại trong các vụ án hình sự thực hiện theo quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và các quy định pháp luật có liên quan.
5. Trường hợp pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật chuyên ngành trong từng lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí có quy định về phương pháp xác định giá trị thiệt hại hoặc biện pháp khắc phục hậu quả có tính chất tương tự thì cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán căn cứ quy định pháp luật đó để xác định giá trị thiệt hại khi thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.
6. Khi có đủ căn cứ xác định hành vi gây lãng phí và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều này, cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán có thể sử dụng một hoặc một số cách xác định thiệt hại quy định tại các Điều 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 Nghị định này để xác định giá trị thiệt hại tương ứng với hậu quả của hành vi gây lãng phí.

Thiệt hại đối với hậu quả làm tăng chi ngân sách nhà nước (Điều 10):

Thiệt hại được xác định theo một trong các cách sau:
1. Số kinh phí bổ sung so với dự toán, tổng mức đầu tư hoặc mức kinh phí được cấp có thẩm quyền phê duyệt do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra. Khi xác định thiệt hại phải loại trừ phần chi phí phát sinh do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, biến động giá nguyên vật liệu, thay đổi chính sách pháp luật, điều chỉnh quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền hoặc nguyên nhân khác không thuộc lỗi của người bị xem xét trách nhiệm.
2. Toàn bộ kinh phí ngân sách nhà nước đã chi khi thực hiện văn bản được ban hành trái chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát ngân sách nhà nước, nguồn vốn của quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách (Điều 11):

Thiệt hại được xác định theo một trong các cách sau:
1. Số kinh phí ngân sách nhà nước đã chi không đúng mục đích, đối tượng, định mức, tiêu chuẩn, chế độ, dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Số kinh phí ngân sách nhà nước đã tạm ứng nhưng không thể thu hồi.
3. Số tiền đã chi từ quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách không đúng mục đích, quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của quỹ.
4. Số vốn đầu tư công được sử dụng vượt mức được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư phê duyệt; không đúng mục đích, đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định.
5. Số vốn nhà nước đã sử dụng để thực hiện phần công trình không đúng quy định pháp luật, phải phá dỡ hoặc không thể nghiệm thu, bàn giao để đưa vào sử dụng do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra, sau khi trừ giá trị còn lại có thể thu hồi, tái sử dụng, thanh lý hoặc giá trị tài sản, vật tư, thiết bị có thể chuyển sang sử dụng cho mục đích khác theo quy định của pháp luật.
6. Phần lợi nhuận phải nộp vào ngân sách nhà nước bị giảm do doanh nghiệp nhà nước trích lập các quỹ không đúng mục đích, chế độ do cấp có thẩm quyền ban hành.

Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án đầu tư (Điều 12):

Thiệt hại được xác định là toàn bộ kinh phí ngân sách nhà nước phải chi để thực hiện việc phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án do thực hiện hành vi gây lãng phí.



Thiệt hại đối với hậu quả dự án bị kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt (Điều 13):

1. Thiệt hại được xác định là số tiền thực tế từ nguồn vốn nhà nước đã đầu tư xây dựng công trình nhân với trung bình lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thấp nhất của các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ trong khoảng thời gian công trình, dự án dừng thi công do lỗi cố ý thực hiện các hành vi sai phạm trong quá trình thực hiện dự án.
2. Không xác định thiệt hại theo Điều này đối với thời gian kéo dài do nguyên nhân bất khả kháng, thiên tai, dịch bệnh, chậm giải phóng mặt bằng; chậm bố trí vốn, biến động bất thường về giá, vật liệu, thay đổi quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc nguyên nhân khách quan khác không thuộc lỗi của người bị xem xét trách nhiệm.
3. Việc xác định thiệt hại phải căn cứ hồ sơ dự án, hợp đồng, nhật ký thi công, biên bản nghiệm thu, văn bản chỉ đạo, điều chỉnh của cơ quan có thẩm quyền và các tài liệu hợp pháp khác có liên quan.

Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài sản công (Điều 14):

Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài sản công được xác định theo một trong các cách sau:
1. Phần giá trị tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm, giao vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật xác định theo quy định tại Nghị định số 63/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 55/2026/NĐ-CP.
2. Giá trị còn lại của tài sản công bị mất, bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc bị sử dụng trái quy định dẫn đến không thu hồi được xác định theo hồ sơ kế toán, hồ sơ quản lý tài sản, kết quả kiểm kê, kết quả định giá, thẩm định giá hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền tại thời điểm xác định thiệt hại.
3. Phần giá trị tài sản bị hao hụt vượt định mức theo quy định.

Thiệt hại đối với hậu quả gây hư hỏng tài sản công (Điều 15):

Thiệt hại đối với hậu quả gây hư hỏng tài sản công được xác định là số kinh phí ngân sách nhà nước phải chi để sửa chữa, khôi phục lại tài sản công.

Thiệt hại đối với hậu quả làm phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa do không xử lý kịp thời đối với tài sản công không được sử dụng (Điều 16):

Thiệt hại được xác định là phần kinh phí ngân sách nhà nước tăng thêm để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công do thực hiện hành vi gây lãng phí.

Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để xử lý, khôi phục, phục hồi, bồi thường thiệt hại (Điều 17):

Thiệt hại được xác định là toàn bộ các khoản kinh phí ngân sách nhà nước hợp lý, cần thiết phải chi trả để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục hậu quả của hành vi gây lãng phí, phục hồi lại tình trạng ban đầu của tài sản công, tài nguyên. Không tính vào thiệt hại các khoản kinh phí ngân sách nhà nước phát sinh không trực tiếp liên quan đến hành vi gây lãng phí hoặc phát sinh do nguyên nhân khách quan không thuộc lỗi của người bị xem xét trách nhiệm.

Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài nguyên, năng lượng (Điều 18):

Thiệt hại được xác định là giá trị tài nguyên, năng lượng bị khai thác trái phép, bị mất, bị suy giảm (bao gồm tình trạng tài nguyên bị cạn kiệt do khai thác vượt khả năng tái tạo, bị ô nhiễm, hủy hoại, suy thoái hoặc giảm giá trị do cố ý sử dụng công nghệ lạc hậu) do hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng trực tiếp gây ra, được xác định theo giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố hoặc theo các phương pháp định giá, thẩm định giá theo quy định của pháp luật tại thời điểm xác định thiệt hại.
Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định về định mức hao hụt, tổn thất cho phép thì phần hao hụt, tổn thất trong định mức không được tính là thiệt hại.

Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh nghĩa vụ tài chính khác của Nhà nước (Điều 19):

1. Thiệt hại được xác định là khoản nghĩa vụ tài chính khác mà Nhà nước phải thực hiện do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra, bao gồm nghĩa vụ thanh toán, hỗ trợ, bù đắp, bảo lãnh, trả nợ, lãi, phí hoặc nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận tại hợp đồng.
2. Trường hợp nghĩa vụ tài chính phát sinh trong dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, trong hoạt động quản lý nợ công, quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp hoặc trong các giao dịch tài chính khác thì việc xác định thiệt hại ngoài quy định tại Điều này còn phải tuân thủ pháp luật chuyên ngành có liên quan.

Thiệt hại đối với hậu quả thất thoát, mất vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Điều 20):

Thiệt hại đối với hậu quả thất thoát, mất vốn nhà nước tại doanh nghiệp được xác định là phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thực tế bị mất, bị giảm do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra, được xác định trên cơ sở báo cáo tài chính đã được kiểm toán, hồ sơ kế toán, kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Thiệt hại đối với hậu quả tài sản công không được đưa vào sử dụng (Điều 21):

1. Thiệt hại đối với hậu quả tài sản công không được đưa vào sử dụng được xác định là giá trị hao mòn, khấu hao tài sản cố định theo quy định trong thời gian tài sản không được đưa vào sử dụng do lỗi của người được giao quản lý, sử dụng tài sản.
2. Không xác định thiệt hại theo Điều này đối với thời gian tài sản công chưa được đưa vào sử dụng do sắp xếp tổ chức bộ máy; trình cấp có thẩm quyền quyết định xử lý tài sản; chưa được bố trí kinh phí sửa chữa, cải tạo; thực hiện yêu cầu tạm dừng của cơ quan có thẩm quyền; hoặc do nguyên nhân khách quan khác không thuộc lỗi của người được giao quản lý, sử dụng tài sản.
3. Việc xác định thiệt hại phải căn cứ hồ sơ quản lý tài sản công, quyết định giao, xử lý tài sản, hồ sơ kế toán, hồ sơ kỹ thuật, biên bản kiểm kê, văn bản của cơ quan có thẩm quyền và tài liệu hợp pháp khác có liên quan.

Thiệt hại đối với hậu quả làm giảm thu ngân sách nhà nước (Điều 22):

Thiệt hại được xác định là toàn bộ nguồn thu của ngân sách nhà nước bị giảm đi do thực hiện hành vi gây lãng phí quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15. Việc xác định số thu ngân sách nhà nước bị giảm thực hiện theo quy định pháp luật về đất đai, pháp luật về quản lý thuế và quy định pháp luật có liên quan.

Chi tiết xem và tải file Nghị định 267/2026/NĐ-CP đính kèm phía dưới. 

Ngoài ra, có thể xem thêm các văn bản QPPL khác liên quan xử phạt vi phạm liên quan đến hoạt động đấu thầu, mua sắm công như:

– Các quy định, mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu thầu, mua sắm công theo Nghị định 122/2021/NĐ-CP TẠI ĐÂY.

– Các quy định, mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (trong đó có việc vi phạm quy định khi không thực hiện mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc,…) theo Nghị định 106/2025/NĐ-CP TẠI ĐÂY.

 

Dauthaumuasam.vn



error: Content is protected !!